Lịch sử
Cơ cấu tổ chức
Đảng bộ
Công đoàn
Đoàn thanh niên
Hội sinh viên
Hội cựu chiến binh
Hành chính - Quản trị
Tổ chức CB - Công tác SV
Đào tạo - Quản lý Khoa học
Phòng Khảo thí
Thanh tra - ĐBCL
Tổ tài vụ
Khoa Khoa học tự nhiên
Khoa KH XH và NV
Khoa NN - TH - KT
Khoa GD Tiểu học - Mầm non
Khoa Giáo dục thường xuyên
Bộ môn Lý luận chính trị
Bộ môn Tâm lý - Giáo dục
Trung tâm ký túc xá
Trung tâm Tin học-Ngoại ngữ
Giới thiệu
Cơ cấu tổ chức
Quy chế hoạt động
Đề tài NCKH
Luận văn - Khóa luận
Danh mục sách
Thơ
Văn
Cùng bạn đọc
Số 1 - 2014
Số 2 - 2014
Thông tin tuyển dụng
 
Lượt truy cập:
3799304
 
Đang trực tuyến:
1137
Văn
Mái trường thân yêu - Thầy Nguyễn Công Thanh
 MÁI TRƯỜNG THÂN YÊU

                                                                                               Nguyễn Công Thanh

                                                                Trưởng khoa GD Tiểu học - Mầm non             

 

Ngày 5 tháng 11 năm 1982, tôi đặt chân đến Đắk Lắk, đến vùng đất xa lạ, chỉ biết trên bản đồ và trong sách vở một cách tự nguyện theo sự rủ rê của anh bạn học cùng lớp. Chúng tôi đơn giản lắm. Ra trường đi đâu cũng được, miễn là được ăn no, vài năm sau được trở về quê nhà công tác. Thưở ấy, nhà nước có chính sách giáo viên miền xuôi lên công tác miền núi, sau 4-5 năm sẽ được trở về quê. Bởi thế, tôi đã đến phòng tổ chức trường Đại học Sư phạm Vinh xin hủy đăng ký đi Tiền Giang để “được” đến Đắk Lắk.

 Chúng tôi vô cùng háo hức khi lần đầu tiên vượt vĩ tuyến 17 vào Nam trên con tàu Thống nhất. Hồi ấy, dấu vết chiến tranh còn khá rõ hai bên đường. Những xác xe pháo, vỏ đạn, bãi kẽm gai, lô cốt, … còn ngổn ngang ở các căn cứ quân sự trước 1975 của địch. Hai chúng tôi vừa nhìn vừa bình phẩm rất hào hứng như những nhà sử học đang đi tìm tài liệu. Do đó, chặng đường từ Vinh vào Nha Trang chưa đến một ngàn cây số mà tàu đi hai ngày đêm không làm chúng tôi sốt ruột.

Đèo Phượng Hoàng quanh co, hùng vĩ không làm tôi hãi hùng. Những con đường đất đỏ bụi bặm không làm tôi nản chí. Những trận gió mùa khô lạnh lẽo cũng chẳng là gì với chàng tuổi trẻ đang ấp ủ mộng đẹp như tôi. Nhưng tôi thật sự thất vọng khi được phân công dạy các lớp 5 + 3 - học sinh 100% là người dân tộc, nói tiếng Việt chưa sõi, nói gì đến bình thơ, giảng văn! Ước mơ ra trường được dạy cấp III ở trung tâm thành phố, thị xã, có học sinh thông minh, ngây thơ, trẻ trung, nhí nhảnh… tan thành mây khói. Giá lúc ấy mà được gào lên: Bốn năm làm mọt sách không phải để dạy lớp 6! Bốn năm ngốn hàng đống sách báo không phải để dạy “tập đọc”! thì nhẹ người biết mấy. Nhưng gào sao được, khi cả tổ văn ai cũng phải dạy như thế! Ngày anh tổ trưởng sinh ra, lớn lên ở cố đô Huế cũng đảm nhận một lớp 5+3 như tôi.

Sự bồng bột của tuổi trẻ rồi cũng qua đi. Lúc này, tôi mới thực sự thấm thía lời dạy của Bác Hồ đối với văn nghệ sĩ kháng chiến năm xưa:

“Hiện nay trình độ của đại đa số đồng bào ta không cho phép đọc dài, điều kiện giấy mực của ta không cho phép viết dài và in dài, thì giờ của ta, người lính đánh giặc, người dân đi làm, không cho phép xem lâu. Vì vậy cho nên viết ngắn chừng nào tốt chừng ấy.

- Vì ai mà mình viết?

- Mục đích viết làm gì?

Phải đặt câu hỏi: Viết cho ai?

- Viết cho đại đa số: Công – Nông – Binh.

Viết để làm gì?

- Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng.

(“Cách viết”, Văn Hồ Chủ tịch, Nxb Giải phóng, 1973, tr. 210-214)

Tôi đã vận dụng lời dạy sâu sắc của Ngươi để soạn bài lên lớp, tìm ra cách diễn đạt mộc mạc nhất, dễ hiểu nhất với đối tượng học sinh lớp 6 người dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Dần dần các em yêu quý, tôn kính tôi, gọi tôi là “nay Thanh” một cách trìu mến. Tôi cũng bắt đầu đồng cảm với sự chân tình, ngay thẳng, bộc trực dễ thương của các em.

 Tôi như một cánh chim hồ hởi tự nguyện bay vào vòng xoáy của công việc. Những đợt thi giáo viên dạy giỏi, những đêm biểu diễn văn nghệ, những giải đấu thể thao… đã cuốn hút tôi, xóa đi sự buồn rầu, chán nản trong tôi. Những đợt cắm trại, những ngày dã ngoại làm tôi say đắm. Tôi bắt đầu yêu mảnh đất và con người Tây Nguyên. Tình yêu đến lúc nào không biết. Đây không phải là thứ tình “trăm hình muôn trạng: cái tình đằm thắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi... cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu” như của Lưu tiên sinh thuở trước, mà là tình yêu chân tình, mộc mạc, đằm thắm, sâu sắc, bền chặt.

                                        

* * * 

 

Thời gian “thắm thoát thoi đưa”, mới ngày nào đó mà đã hơn 36 năm-quãng thời gian gần trọn cả một sự nghiệp. 36 năm với bao biến đổi, thăng trầm nhưng cuộc đời tôi vẫn luôn gắn bó với mái trường Cao đẳng Sư phạm. Trường là ngôi nhà ấm áp che chở tôi khỏi phong ba, giá rét. Trường là người định hướng dìu dắt, nâng đỡ tôi trưởng thành. Trường là ngọn gió lành chắp cánh ước mơ tôi thêm bay bổng. Trường là người mẹ ân cần an ủi, vỗ về khi tôi thất vọng. Trường là người bạn tâm tình thủ thỉ, động viên khi tôi gặp chuyện bất trắc…

Từ một cử nhân sư phạm, gia tài là hai bộ quần áo cũ sờn và một ít kiến thức sách vở thu lượm được trong bốn năm đại học, tôi đã có tất cả. Tôi đã có người bạn đời hiền dịu, vầng trán thông minh, đôi mắt chan chứa yêu thương. Đôi mắt ấy biết nói, biết vỗ về, biết xoa dịu nỗi đau của người khác. Cũng từ ngôi trường này, tôi đã có hai đứa con ngoan, thông minh, học giỏi. Các “thiên thần” của tôi được sinh ra, lớn lên trong vòng tay âu yếm của mái trường Sư phạm. Trường Cao đẳng Sư phạm không chỉ “nuôi” các cháu bằng vật chất mà quan trọng hơn là tạo môi trường học tập, môi trường rèn luyện để các cháu phấn đấu vươn lên. Tuy không theo nghề dạy học, thậm chí không trở về Đắk Lắk làm việc nhưng mái trường Cao đẳng Sư phạm vẫn in đậm trong tâm trí các cháu. Dù ở phương trời xa nhưng lòng các cháu vẫn hướng luôn về trường Cao đẳng Sư phạm ấm áp thân yêu.

Dưới mái trường Cao đẳng Sư phạm, bản thân tôi không ngừng trưởng thành. Trường đã giác ngộ, giáo dục lý tưởng để tôi phấn đấu trở thành đảng viên Cộng sản. Trường đã động viên, khích lệ, giúp đỡ cho tôi xong học Cao học, có bằng Thạc sĩ. Trường tạo điều kiện giúp tôi trở thành Giảng viên chính. Tôi ăn cơm trường, uống nước trường, hít thở không khí thơm nồng, quyến rũ của hương ngọc lan hòa quyện với hương thiếu nữ trẻ trung, xinh tươi lan tỏa khắp giảng đường Cao đẳng. Trường là niềm tin, là cuộc sống của tôi! Là một phần máu thịt của tôi! Tôi rất tự hào và hãnh diện khi mình là giảng viên của trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk.

Giảng viên, công nhân viên nhiều thế hệ trong trường là những đồng nghiệp tuyệt vời của tôi. Đối với tôi, họ là thầy cô, anh chị, bạn bè… Sống và làm việc cùng họ tôi cảm thấy ấm áp, gần gũi, tự tin. Nhiều lãnh đạo của trường đã dìu dắt tôi trưởng thành. Nhiều thầy cô đã truyền kinh nghiệm quý báu cho tôi trong những ngày mới chập chững vào nghề. Nhiều đồng nghiệp đã trở thành bạn tri kỷ của tôi. Nhiều thế hệ học sinh, sinh viên đã để lại dấu ấn đẹp đẽ về tình thầy trò không bao giờ phai nhạt trong tôi.

Lòng tôi không bao giờ quên công ơn của thầy Thái Văn Khoa - Người đã hỏi vợ cho tôi, giúp tôi chín chắn hơn trong thời bồng bột của tuổi trẻ. Thầy Nguyễn Đức Túy, thầy Trương Văn Tỵ đã dìu dắt tôi trưởng thành. Thầy Đặng Văn Chấn đã động viên, nâng đỡ tôi những lúc khó khăn, gian khổ. Thầy Nguyễn Như Lương đã khích lệ tôi học tập nâng cao trình độ. Thầy Phạm Vũ Luật đã tạo điều kiện về thời gian cho tôi chăm lo tổ ấm gia đình, nuôi dạy con cái học hành. Thầy Nguyễn Trọng Hòa đã tin tưởng giao công việc, giúp tôi được cống hiến sức lực, trí tuệ của mình cho mái trường thân yêu trong những năm cuối cùng của sự nghiêp…

Tuy không phải là người đặt những viên gạch đầu tiên xây nên mái trường yêu dấu này nhưng tôi đã hiến dâng toàn bộ tuổi trẻ, cuộc đời, sự nghiệp cho quá trình xây dựng và phát triển của trường. Dù ở cương vị công tác nào, dù đang làm việc hay sau này nghỉ hưu, trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk mãi mãi là ngôi nhà ấm cúng của tôi, là “bài ca không quên” trong trái tim tôi.

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, xin kính tặng các thầy cô giáo và các thế hệ sinh viên Sư phạm mấy lời tri ân:

Làm nghề dạy học thật vinh

Nhân tài đất nước do mình tạo ra

Thời gian không thể xóa nhòa

Ơn người gieo chữ nở hoa bốn mùa!